Đang tải... Vui lòng chờ...
Hỗ trợ trực tuyến
Nhân viên KD
ĐT: 0932 18 02 81
Email: tanvien.kd@gmail.com
Trung tâm BH
ĐT: 024 3553 9976
Lượt truy cập

Cách chọn ngày tốt, kén giờ Hoàng đạo

CÁCH CHỌN NGÀY TỐT, KÉN GIỜ HOÀNG ĐẠO
(Dựa theo "Việt Nam phong tục" do Phan Kế Bình biên soạn)
 

I. Có ngày tốt hay xấu không?

Xét phép chọn ngày, từ đời Đường, Ngu, Tam đại đã có. Song khi bấy giờ thì chỉ tuỳ việc mà chọn ngày: Nội sự dụng nhu, ngoại sự dụng cương. Nội sự là việc trong như việc tế tự cưới xin... thì dùng những ngày âm can là các ngày: ất, đinh, kỷ, tân, quý. Ngoại sự là việc ngoài như đánh dẹp, giao thiệp... thì dùng ngày dương can là các ngày: Giáp, bính, mậu, canh, nhâm. Dùng như thế chỉ có ý làm các việc êm ái, hoà nhã thì theo về ngày âm, việc cứng cáp mạnh mẽ thì theo về ngày dương, nghĩa kén lấy ngày có chút ý nghĩa hợp với nhau mà thôi.
Đến đời sau các nhà âm dương thuật số mỗi ngày mới bày thêm ra ngày tốt, ngày sao xấu, ngày này nên là việc nọ, ngày kia nên làm việc kia. Hết ngày rồi lại có giờ sinh, giờ hợp, giờ xung, giờ khắc, động làm việc gì cũng phải xem ngày, kén giờ, thực là một việc phiền toái quá. Đã đành làm việc gì cũng nên cẩn thận, mà chọn từng ngày, kén từng giờ mà phí câu nệ khó chịu. Mà xét cho kỹ thì có ích gì đâu, chẳng qua việc thành hay bại cốt do ở người chớ có quan hệ gì ngày tốt hay ngày xấu. Nếu cứ chọn ngày giờ mà nên việc thì không cần gì phải dùng đến sức người nữa hay sao?
Thực tế, có ngày mọi việc mọi điều đều thành công, nhiều điều may mắn tự nhiên đưa tới; có ngày vất vả sớm chiều mà chẳng được việc gì, còn gặp tai nạn bất ngờ. Phép duy vật biện chứng giải thích đó là quy luật tất nhiên và ngẫu nhiên. Trong tất nhiên có yếu tố ngẫu nhiên, trong ngẫu nhiên cũng có yêú tố tất nhiên. Lý luận thì như vậy nhưng có bạn đọc cũng muốn biết cụ thể trong tháng này, ngày nào tốt, ngày nào xấu, ngày nào tốt cho việc làm nhà, cưới vợ, tang lễ phải chánh giờ nào...Đa số bà con ta vẫn nghĩ "có thờ có thiêng, có kiêng có lành", nhất là khi điều khiêng đó không ảnh hưởng gì mâý tới công việc cũng như kinh tế...
Thời xưa, mặc dầu có người tin, có người không tin, toà Khâm thiên giám ban hành "Hiệp kỷ lịch", mà số người biết chữ Hán khá nhiều nên phần đông các gia đình cứ dựa vào đó mà tự chọn ngày giờ. Thời nay, rải rác ở các làng xã, còn sót lại một vài người còn biết chữ Hán nhưng sách vở cũ hầu như không còn, các gia đình muốn xem ngày giờ để định liệu những công việc lớn đành mất công tốn của tìm thầy. Khốn nỗi, mỗi thầy phán một cách, chẳng biết tin ai. Đã có trường hợp, bốn ông bà thông gia vì việc chọn ngày tốt xấu, tuổi hợp tuổi xung, tranh cãi nhau phải chia tay để lại mối hận tình. Gần đây trên thị trường xuất hiện cuốn sách viết về cách xem ngày tính giờ. Cũng có tác giả có kiến thức, có tư liệu, viết rất thận trọng, nhưng ngược lại có người viết rất cẩu thả, dựa theo thị hiều thương trường, vô căn cứ với động cơ kiếm tiền bất chính. Có cuốn sách tốt xấu, thực hư lẫn lộn, không có tên nhà xuất bản, không có tên tác giả, không ghi xuất xứ của tư liệu...Cùng một ngày, cuốn này, ghi nên xuất hành, cưới hỏi, cuốn khác ghi kỵ xuất hành, cưới hỏi, làm người xem rất hoang mang. "Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay", biết tin vào đâu? Biết tìm ai mà hỏi?
Nhịp sinh học - đặc điểm của sự sống: Nghiên cứu mọi cơ thể sống đều thấy hoạt động của chúng không phải lúc nào cũng giống lúc nào mà có khi mạnh khi yếu, khi nhanh khi chậm... Những thay đổi đó nhiều khi xảy ra rất đều đặn và liên tiếp thành chu kỳ, còn gọi là nhịp sinh học: Có nhịp ngày đêm, nhịp tháng (liên quan đến âm lịch) nhịp mùa xuân, hạ, thu, đông... Các nhịp sinh học có tính di truyền. Phát hiện ra các nhịp sinh học người ta nhận thấy các quá trình sinh lý trong cơ thể có thể biến đổi theo thời gian. Sự biến cố đó có tính chất chu kỳ và tuần hoàn (lặp đi lặp lại khá đều đặn).
Nghiên cứu về sự chết và tỷ lệ chết của con người, thấy có nhiều biến đổi tuỳ thuộc vào nguyên nhân gây chết. Thí dụ: Vào khoảng 3-4 giờ sáng áp suất máu thấp nhất, não được cung cấp lượng máu ít nhất nên người bệnh hay bị chết nhất. Các cơn động kinh thường có giờ. Bệnh nhân hen cũng thườg lên cơn hen về đêm vào khoảng 2-4 giờ sáng (trùng với thời gian bài tiết cóc- ti-cô-ít ra nước tiểu xuống tới mức thấp nhất). Cơn hen về đêm nặng hơn cơn hen ban ngày. Những biến đổi có tính chất chu kỳ hàng năm thì có nguy cơ chết về đau tim cao nhất là vào tháng giêng đối với một số nước ở bán cầu phía Bắc. Cao điểm hàng năm của các vụ tự tử ở bang Min-ne-so-ta cũng như ở Pháp là vào tháng 6. Hai nhà khoa học An-đơ-lô-ơ và Mét đã phân tích 3620 trường hợp tai nạn lao động và thấy làm ca đêm ít tai nạn hơn làm ca sáng và chiều.
Ngày vận hạn của mỗi người: Trên cơ sở tính toán ảnh hưởng của các yết tố vũ trụ lên trái đất và bằng phương pháp tâm sinh lý học thực nghiệm, người ta đã rút ra kết luận là từ khi ra đời, cuộc sống của mỗi người diễn ra phù hợp với ba chu kỳ riêng biệt: Chu kỳ thể lực: 23 ngày, chu kỳ tình cảm 28 ngày, chu kỳ chí tuệ 33 ngày. Mỗi chu kỳ gồm hai bán chu kỳ dương và âm. Bán chu kỳ dương (1/2 số ngày của đầu chu kỳ) được đặc trưng bằng sự tăng cường khả năng lao động. Còn bán chu kỳ âm (1/2 số ngày cuối chu kỳ)thì các hiện tượng đều ngược lại. Cả ba chu kỳ trên đều chuyển tiếp từ bán chu kỳ dương sang bán chu kỳ âm. Ngày trùng với điểm chuyển tiếp này là ngày xấu nhất của mỗi chu kỳ. Thực tế đã chứng minh: Đối với chu kỳ tình cảm, vô cớ. Đối với chu kỳ trí tuệ, đó là ngày đãng trí, khả năng tư duy kém. Đặc biệt đối với chu kỳ thể lực, đó là ngày thường sảy ra tai nạn lao động. Đối với hai chu kỳ, số ngày chuyển tiếp trùng nhau chỉ xảy ra một lần trong một năm. Ngày trùng hợp đó của ba chu kỳ là ngày xấu nhất, có thể coi là ngày "Vận hạn" của mỗi người.
Nếu biết ngày, tháng, năm sinh của mỗi người, nhờ máy tính điện tử có thể dễ dàng xác định được các chu kỳ, điểm chuyển tiếp và sự trung hợp điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ.
Công ty giao thông của Nhật Bản Omi Reilvei đã áp dụng thành tựu vào bảo vệ an toàn giao thông. Họ đã xác định các chu kỳ, các điểm chuyển tiếp giữa các chu kỳ của từng người lái và báo cho lái xe biết trước những "ngày xấu" để họ phòng tránh. Nhờ đó số tai nạn giao thông ở Nhật Bản đã giảm đi rất nhiều, đặc biệt vào đầu năm áp dụng (969-1970) số tai nạn giao thông đã giảm hản 50%.
Theo Cup-ria-nô-vích (Liên Xô cũ) thì giả thuyết về nhịp tháng của các quá trình sinh học xác định ba trạng thái của cơ thể, không chỉ áp dụng ở Nhật Bản mà còn được áp dụng ở nhiều nước Tây Âu vào công tác an toàn, giao thông nói riêng, an toàn lao động nói chung.
Các vấn đề trên đây không phải là "thầy bói nói mò" mà dựa vào một dữ kiện thực tế nhất định. Nó cũng phù hợp với nhận thức về mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố địa vật lý vũ trụ với các quá trình hoạt động chức năng của cơ thể.

Vua Trần Minh Tông với việc chọn ngày làm lễ an táng mẹ.
Năm 1332 Thuận thánh Bảo từ Hoàng Thái Hậu mất. Con là Thượng Hoàng Minh Tông lúc đó đã nhường ngôi cho con là Hiến Tông. Thượng hoàng sai các quan chọn ngày chôn cất. Có người tâu rẳng: "Chôn năm nay tất hại người tế chủ". Thượng hoàng hỏi : "Người biết sang năm ta nhất định chết à?". Người ấy trả lời không biết. Thượng hoàng lại hỏi: "Nếu sang năm trở đi ta chắc chắn không chết thì hoán việc chôn mẫu hậu cũng được, nếu sang năm ta chết thì lo xong việc chôn cất mẫu hậu chẳng hơn là chết mà chưa lo được việc đó ư? Lễ cát, lễ hung phải chọn ngày là vì coi trọng việc đó thôi, chứ đâu phải câu nệ hoạ phúc như các nhà âm dương". Rốt cuộc vẫn cử hành lễ an táng.
 

II. Xem ngày kén giờ

1. Xem ngày

Việc cưới xin, việc làm nhà cửa, việc vui mừng khai hạ, việc xuất hành đi xa, việc khai trương cửa hàng, cửa hiệu, việc gieo mạ cấy lúa, việc tế tự, việc thương biểu, việc nhập học, việc xuất quân, việc an táng... việc gì thường cũng bắt đầu làm việc gì, hoặc động thổ hoặc xuất hành, hoặc khai bút, khai ấn... lại cần xem ngày lắm. Đến những việc vụn vặt như cạo đầu xỏ tai cho trẻ thơ, việc tắm gội, may áo... cũng có người cẩn thận quá trong kén ngày.
Kén thì phải xem đến lịch. Sách lịch do toà khâm thiên giám soạn ra. Mỗi năm về ngày mồng một tháng chạp, Hoàng Đế ngự điện khai trào, các quan Khâm thiên giám cung tiến Hiệp Kỷ Lịch, rồi khâm mạng vua mà ban lịch khắp nơi... Ban lịch trọng thể nhất là để cho thiên hạ biết chính xác nhất tiết khí, tháng thiếu tháng đủ, ngày tốt ngày xấu, để tuân hành được đều nhau.
Phàm việc lại cần kén ngày hợp mệnh, mà kiêng ngày tuổi.
 
+ Ngày tốt:
- Đại để ngày nào có nhiều sao cát tinh như thiên đức, nguyệt đức, thiên ân, thiên hỷ... hoặc là ngày trực khai, trực kiến, trực bình, trực mãn thì là ngày tốt.
- Ngày thập linh, ngày đức hợp là tốt.
 
+ Ngày xấu:
- Ngày nào có những sao hung tính như sao trùng tang, trùng phục, thiên hình, nguyệt phá thì là ngày xấu. Kiêng nhất là ngày sát chủ, ngày thụ tử, việc gì cũng phải tránh.
- Ngày nguyệt kỵ: Mỗi tháng có ba ngày là ngày năm, mười bốn, hai mươi ba, gọi là ngày nguyệt kị việc gì cũng nên kiêng và nhất là nên kiêng nhập phòng.
- Ngày tam nương: Mỗi tháng có 6 ngày tam nương là ngày 3, 7, 13, 18, 22, 27, việc gì cũng nên kiêng và nhất là nên kiêng nhập phòng.
- Ngày Dương công: Trong một năm lại có mười ba ngày gọi là ngày Dương công kỵ nhật, hễ phạm phải ngày ấy thì việc gì cũng hư hỏng không thành, hết thảy việc gì cũng phải tránh những ngày ấy. Những ngày Dương công kị nhật là: Ngày 13 tháng giêng; Ngày 11 tháng hai; Ngày 9 tháng ba; Ngày 7 tháng tư; Ngày 5 tháng năm; Ngày 3 tháng 6; Ngày 8, 29 tháng bảy; Ngày 27 tháng tám; Ngày 25 tháng chín; Ngày 23 tháng mười; Ngày 21 tháng một; Ngày 19 tháng chạp.
- Ngày thập ác đại bại, ngày tứ lỵ, ngày tứ tuyệt là xấu: Mỗi năm có 4 ngày tứ ly (trước tiết xuân phân, thu phân, đông chí, hạ chí một ngày), 4 ngày tứ tuyệt (trước tiết lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông một ngày)
Phong thuỷ làm nhà

Mâý việc dân gian thường dùng nên kén, nên kỵ:
- Cưới xin nên tìm ngày thiên đức, nguyệt đức, kỵ ngày trực phá, trực nguy.
- Làm nhà nên tìm ngày thiên ân. Thiên hỷ, kỵ ngày thiên hoả, địa hoả và ngày kim lâu.
- Xuất hành nên tìm ngày lộc mã, hoàng đạo, kỵ ngày trức phá, trực bế.
- An táng nên tìm ngày thiên hỷ, thiên đức, kỵ ngày tử khí quan phù...
 

a. Cách tính sao chiếu theo tháng âm lịch và ngày can chi:
+ Các sao tốt:

Thiên đức, nguyệt đức (lục hợp), thiên giải, thiên hỷ, thiên quý (yếu yên), tam hợp (ngũ phú). Theo quan niệm xưa, những ngày có các sao này chiếu thì làm việc gì cũng tốt.
- Ngoài ra còn có các sao: Sinh khí (thuận việc làm nhà, sửa nhà, động thổ), thiên thành (cưới gả giao dịch tốt), thiên quan (xuất hành giao dịch tốt), lộc mã (xuất hành di chuyển tốt), phúc sinh (được phúc tốt), giải thần (giải trừ các sao xấu), thiên ân (được hưởng phúc ân, làm nhà, khai trương)...
Theo thứ tự lần lượt từ tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, mười một, chạp thì các sao tốt sẽ chiếu vào các ngày như sau:

 
Sao chiếu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Thiên đức
Tị
Mùi
Dậu
Hợi
Sửu
Mão
Tị
Mùi
Dậu
Hợi
Sửu
Mão
Nguyệt đức
Hợi
Tuất
Dậu
Thân
Mùi
Ngọ
Tị
Thìn
Mão
Dần
Sửu
Thiên giải
Ngọ
Thân
Tuất
Dần
Thìn
Ngọ
Thân
Tuất
Dần
Thìn
Thiên hỷ
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Thiên quý
Dần
Thân
Mão
Dậu
Thìn
Tuất
Tỵ
Hợi
Ngọ
Mùi
Sửu
Tam hợp
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Sinh khí
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Thiên thành
Mùi
Dậu
Hợi
Sửu
Mão
Tỵ
Mùi
Dậu
Mùi
Sửu
Mao
Tỵ
Thiên quan
Tuất
Dần
Thìn
Ngọ
Thân
Tuất
Dần
Thìn
Ngọ
Thân
Lộc mã
Ngọ
Thân
Tuất
Dần
Thìn
Ngọ
Thân
Tuất
Dần
Thìn
Phúc sinh
Dậu
Mão
Tuất
Thìn
Hợi
Tỵ
Ngọ
Sửu
Mùi
Dần
Thân
Giải thần
Thân
Thân
Tuất
Tuất
Dần
Dần
Thìn
Thìn
Ngọ
Ngọ
Thiên ân
Tuất
Sửu
Dần
Tỵ
Dậu
Mão
Ngọ
Thân
Thìn
Thân
Mùi
Có nghĩa là: Sao thiên đức chiếu vào những ngày tị của tháng giêng, ngày mùi của tháng hai, ngày dậu của tháng ba... Các sao khác cũng xem như vậy.

+ Các sao xấu:
Thiên cương, thụ tử, đại hao, tử khí, quan phù (xấu trong mọi việc lớn), tiểu hao (kỵ xuất nhập, tiền tài), sát chủ, thiên hoạ, địa hoả, hoả tai, nguyệt phá (kiêng làm nhà), băng tiêu, ngoạ giải (kiêng làm nhà và mọi việc lớn), thổ cấm (kiêng động thổ), vãng vong (kiêng xuất hành giá thú), cô thần, quả tú (kiêng giá thú), trùng tang trùng phục (kỵ hôn nhân, mai táng, cải táng).
Theo thứ tự từ tháng giêng, hai, ba, tư, năm, sáu, bảy, tám, chín, mười, một, chạp thì các sao xấu chiếu như sau:
 
Sao chiếu
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Thiên cương
Tỵ
Mùi
Dần
Dậu
Thìn
Hợi
Ngọ
Sửu
Thân
Mão
Tuất
Thụ tử
Tuất
Thìn
Hợi
Tỵ
Ngọ
Sửu
Mùi
Dần
Thân
Mão
Dậu
Đại hao, Tử khí, Quan phù
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Tiểu hao
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Sát chủ
Tỵ
Mùi
Mão
Thân
Tuất
Sửu
Hợi
Ngọ
Dậu
Dần
Thìn
Thiên hoả
Mão
Ngọ
Dậu
Mão
Ngọ
Dậu
Mão
Ngọ
Dậu
Địa hoả
Tuất
Dậu
Thân
Mùi
Ngọ
Tỵ
Thìn
Mão
Dần
Sửu
Hợi
Hoả tai
Sửu
Mùi
Dần
Thân
Mão
Dậu
Thìn
Tuất
Tỵ
Hợi
Ngọ
Nguyệt phá
Thân
Tuất
Tuất
Hợi
Sửu
Sửu
Dần
Thìn
Thìn
Tị
Mùi
Mùi
Băng tiêu ngoạ giải
Tỵ
Sửu
Thân
Mão
Tuất
Hợi
Ngọ
Mùi
Dần
Dậu
Thìn
Thổ cấm
Hợi
Hợi
Hợi
Dần
Dần
Dần
Tỵ
Tỵ
Tỵ
Thân
Thân
Thân
Thổ kỵ, vãng vong
Dần
Tỵ
Thân
Hợi
Mão
Ngọ
Dậu
Thìn
Mùi
Tuất
Sửu
Cô thần
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Quả tú
Thìn
Tỵ
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Sửu
Dần
Mão
Trung tang
Giáp
Ất
Mậu
Bính
Đinh
Kỷ
Canh
Tân
Kỷ
Nhâm
Quý
Mậu
Trùng phục
Canh
Tân
Kỷ
Nhâm
Quý
Mậu
Giáp
Ất
Kỷ
Bính
Đinh
Mậu
 

b. Cách chọn ngày tốt theo ngày trực:

Có 12 trực theo trình tự từ trực kiến đến trực bế, mỗi ngày một trực: 1. Kiến (tốt), 2. trừ (thường), 3. mãn (tốt), 4. bình (tốt), 5. định (tốt), 6. chấp (thường), 7. phá (xấu), 8. nguy (xấu), 9. thành (tốt), 10. thu (thường), 11. khai (tốt), 12. bế (xấu).
+ Sau Lập Xuân - Trực kiến tại Dần
+ Sau Kinh Trập - Trực kiến tại Mão
+ Sau thanh minh - Trực kiến tại Thìn
+ Sau Lập Hạ - Trực kiến tại Tỵ
+ Sau Mang Chủng - Trực kiến tại Ngọ
+ Sau Tiểu Thử - Trực kiến tại Mùi
+ Sau Lập Thu - Trực kiến tại Thân
+ Sau Bạch Lộ - Trực kiến tại Dậu
+ Sau Lập Đông - Trực kiến tại Tuất
+ Sau Đại Tuyết - Trực kiến tại Tý
+ Sau Đại Hàn- Trực kiến tại Sửu
 

c. Cách chọn ngày tốt theo nhị thập bát tú:

Trong 28 ngày có 14 ngày tốt, 14 ngày xấu nhưng nhị thập bát tú tương ứng với ngày tuần lễ. Nói chung ngày thứ tư, thứ năm hàng tuần thường là ngày tốt.
 

d. Cách tính ngày Hoàng đạo, ngày Hắc đạo:

Tháng âm lịch Ngày Hoàng đạo (tốt) Ngày Hắc đạo (xấu)
Giêng, bảy Tý, sửu, tỵ, mùi Ngọ, mão, hợi, dậu
Hai, tám Dần, mão, mùi, dậu Thân, tỵ, sửu, hợi
Ba, chín Thìn, tỵ, dậu, hợi Tuất, mùi, sửu, hợi
Tư, mười Ngọ, mùi, sửu, dậu Tý, dậu, tỵ, mão
Năm, một Thân, dậu, sửu, mão Dần, hợi, mùi, tỵ
Sáu, chạp Tuất, hợi, mão, tỵ Thìn, sửu, dậu, mùi
 

e. Ngày hợp, kỵ theo mệnh, tuổi

+ Thế nào là "Âm dương"?
- Âm và dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất cụ thể, không gian cụ thể mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết. Âm và dương là hai mặt đối lập, mâu thuẫn thống nhất, trong dương có mầm mống của âm và ngược lại.
- Căn cứ nhận xét lâu đời về giới thiệu tự nhiên, người xưa đã nhận xét thấy sự biến hoá không ngừng của sự vật (thái cực sinh lưỡng nghi, lương nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Lưỡng nghi là âm và dương, tứ tượng là thái âm, thái dương, thiếu âm và thiếu dương. Bát quái là càn, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn và đoài).
- Người ta còn nhận xét thấy rằng cơ cấu của sự biến hoá không ngừng đó là ức chế lẫn nhau, giúp đỡ, ảnh hưởng lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau và thúc đẩy lẫn nhau.
- Để biểu thị sự biến hoá không ngừng và qui luật của sự biến hoá đó, người xưa đặt ra "thuyết âm dương".
- Âm dương không phải là thứ vật chất cụ thể nào mà thuộc tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, nó giải thích hiện tượng mâu thuẫn chi phối mọi sự biến hoá và phát triển của sự vật.
Nói chung, phàm cái gì có tính chất hoạt động, hưng phấn, tỏ rõ, ở ngoài, hướng lên, vô hình, nóng rực, sáng chói, rắn chắc, tích cực đều thuộc dương.
- Tất cả những cái gì trầm tĩnh, ức chế, mờ tối, ở trong, hướng xuống, lùi lại, hữu hình, lạnh lẽo, đen tối, nhu nhược, tiêu cực đều thuộc âm.
- Từ cái lớn như trời, đất, mặt trời, mặt trăng, đến cái nhỏ như con sâu, con bọ, cây cỏ, đều được qui vào âm dương.
- Ví dụ về thiên nhiên thuộc dương ta có thể kể: Mặt trời, ban ngày, mùa xuân, hè, đông, nam, phía trên, phía ngoài, nóng, lửa, sáng. Thuộc âm ta có: Mặt trăng, ban đêm, thu, đông, tây, bắc, phía dưới, phía trong, lạnh nước, tối.
- Trong con người, dương là mé ngoài, sau lưng, phần trên, lục phủ, khí, vệ; Âm là mé trong, trước ngực và bụng, phần dưới ngũ tạng, huyết, vinh.
- Âm dương tuy bao hàm ý nghĩa đối lập mâu thuẫn nhưng còn bao hàm cả ý nghĩa nguồn gốc ở nhau mà ra, hỗ trợ, chế ước nhau mà tồn tại. Trong âm có mầm mống của dương, trong dương lại có mầm mống của âm.

+ Thế nào là "Ngũ hành"?
Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất cụ thể được tạo nên trong thế giới này đều do năm yếu tố ban đầu là nước, lửa, đất, cây cỏ và kim loại. Tức năm hành thuỷ, hoả, thổ, mộc, kim. Để giúp các bạn dể nhớ ngũ hành tương sinh và tương khắc, chúng tôi nêu thí dụ mộc mạc đơn giản theo vần thơ như sau:
 
Ngũ hành sinh: thuộc lẽ thiên nhiên.
Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên (thuỷ sinh mộc)
Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (mộc sinh hoả)
Tro tàn tích lại đất vàng thêm (hoả sinh thổ)
Lòng đất tạo nên kim loại trắng (thổ sinh kim)
Kim loại vào lò chảy nước đen (kim sinh thuỷ)

Ngũ hành tương khắc: lẽ xưa nay
Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (mộc khắc thổ)
Đất đắp đê cao ngăn nước lũ (thổ khắc thuỷ)
Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (thuỷ khắc hoả)
Lửa lò nung chảy đồng sắt thép (hoả khắc kim)
Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây (kim khắc mộc)
 
+ Thiên can, địa chi là gì?
Mười thiên can:
Theo thứ tự từ 1 đến 10 là: Giáp (1), ất (2), bính (3), đinh(4), mậu (5), kỷ (6), canh(7), tân (8), nhâm (9), quí (10).
- Số lẻ là dương can (giáp, bính mậu, canh, nhâm)
- Số chẵn là âm (ất, đinh, kỷ, tân, quí)
- Ngày lẻ (dương can) là ngày cương (đối ngoại)
- Ngày chẵn (âm can) là ngày cương (đối nội)
- Những cặp đối xung: Giáp và kỷ, ất và canh, bính và tân, đinh và nhâm, mậu và quí.

Mười hai địa chi:
Theo thứ tự từ 1 đến 12 là: Tý (, sửu (2), dần (3) , mão (4), thìn (5), tỵ (6), ngọ (7), mùi (8), thân (9),dậu (10), tuất (1, hợi (12).
- Số lẻ là dương chi chỉ kết hợp với âm can. Ví dụ: Giáp tý, canh ngọ....
- Số chẵn là âm chi chỉ kết hợp với âm can. Ví dụ: Tân sửu, quí mùi...
- Những cặp đối xung: Tý và ngọ, sửu và mùi, dần và thân, mão và dậu, thìn và tuất, tị và hợi (nghĩa là hơn kém nhau 6).
- Tương hợp: có hai loại, nhị hợp và tam hợp.
+ Nhị hợp: Tý - sửu, Mão - tuất, Tị - thân, Dần- hợi, Thìn- dậu, Ngọ- mùi
+ Tam hợp: Thân - tý - thìn, Dần - ngọ- tuất, Hơi- mão - mùi, Tị -dậu - sửu
Như vậy mỗi chi chỉ có một xung (ví dụ tý xung ngọ), ba hợp (ví dụ tý hợp sửu, tý hợp với thân và thìn)
 
+ Lục thập hoa Giáp là gì?
Cách tính năm, tháng, ngày, giờ theo can chi
Lục thập hoa Giáp là sự kết hợp 6 chu kỳ hàng can với 5 chu kỳ hàng chi thành hệ 60
Cách tính năm, tháng, ngày, giờ đều theo hệ số đó, gọi là lịch can chi, có 6 chu kỳ hàng can tức là có 6 Giáp mà mỗi chu kỳ hàng can hay mỗi Giáp gồm 10 can (đó là: Giáp, Ất, bính, Đinh, Mậu, kỷ, Canh, Tân, Nhâm, quí) nên gọi là lục thập hoa Giáp.

Năm:
Hết một vòng 60 năm từ Giáp Tý đến quí hợi. Từ năm thứ 61 trở lại Giáp Tý, năm thứ 121,181 ... cũng trở lại Giáp Tý. Đó là một điều trở ngại cho việc nghiên cứu sử, nếu không ghi chiều vua nào thì rẤt khó xác định. Một gia đình có ông và cháu cùng một tuổi, có khi tính tuổi cháu nhiều hơn tuổi ông, vậy nên khi tình thành dương lịch cần phải chú ý cộng trừ bội số của 60.
Con số cuối cùng của năm dương lịch ứng với các can: 0: Canh (ví dụ Canh Tý 1780) - 1: Tân; 2: Nhâm - 3: Quý - 4: Giáp - 5; Ất (ví dụ Ất Dậu 1945) - 6: Bính - 7: Đinh - 8: Mậu - 9: Kỷ
 
Tháng:
Tháng: Tháng giêng âm lịch luôn luôn là tháng Dần, tháng hai là Mão, cứ tuân theo thứ tự đó đến tháng 11 là Tý, tháng chạp là Sửu (12 tháng ứng với 12 chi).
Tháng giêng của năm có hàng can Giáp hoặc Kỷ (ví dụ năm Giáp Tý, Kỷ hợi) là tháng Bính Dần.
Tháng giêng của năm có hàng can bính, Tân là tháng Canh Dần
Tháng giêng của năm có hàng can Đinh, Nhâm là tháng Nhâm Dần.
Tháng giêng của năm có hàng can Mậu quí là tháng Giáp Dần.
Trường hợp năm có tháng nhuận thì cứ theo tháng chính (không đổi).
 
Ngày:
Ngày âm lịch và ngày can chi chênh lệch nhau rất khó xác định. VD: âm lịch trong 19 năm có 7 tháng nhuận, lại có tháng đủ 30 ngày tháng thiếu 29 ngày theo trình tự không nhất định, nên tính ngày can chi theo dương lịch dễ hơn.
Cách tính ngày dương lịch ra ngày can chi: Mỗi năm dương lịch có 365 ngày, nghĩa là 6 chu kỳ Lục thập hoa giáp cộng thêm 5 ngày lẻ. Năm nhuận có thêm 1 ngày 29-2 tức 366 ngày, thì công thêmn 6 ngày lẻ. Nếu lấy ngày 1-3 là ngày khởi đầu thì các ngày sau đây trong mọi năm cùng can chi giống 1-3 : 1/3, 30/4, 39/6, 28/8, 27/10, 26/12, 24/2 năm sau đó. Nếu biết ngày 1/3 (hay một trong bảy ngày nói trên) là ngày gì, ta dễ dàng tính nhẩm những ngày bất kỳ trong năm (gần với một trong bảy ngày nói trên). Nếu muốn tính những ngày 1/3 năm sau hay năm sau nữa chỉ cần cộng thêm số dư là 5 đối với năm thường (tức là từ 24-28/2) hoặc là 6 đối với năm nhuận (có thêm ngày 29/2). Thí dụ ngày 1/3 năm 1995 là ngày Tân Mão , từ đó tính nhẩm 25/2/1996 cũng là ngày Quí Tị, 27/2/1996 là ngày giáp Ngọ. (1996 có hàng chục đơn vị chia hết cho 4 tức là năm nhuận có ngày 29/2). Ta biết 1/3/1996 là ngày Đinh Dậu vậy 24/21997 cũng là Đinh Dậu. Chỉ cần cộng thêm 5 ngày. Ta dễ dàng tính ra 1/3/1997 là ngày Nhâm Dần, theo tính nhẩm = Đinh đến Nham hay Dậu đến Dần = 5 ngày
 
Giờ:
Một ngày đêm có 24 giờ nhưng theo can chi chỉ có 12 giờ. Giờ Tý (chính Tý lúc 0 giờ). Giờ Ngọ (chính Ngọ lúc 12 giờ trưa).
Ban ngày tính giờ Dần (tức 4 giờ sáng) đến giờ thân lúc 4 giờ chiều. Ban đêm tính từ giờ Dậu đến hết giờ Sửu. Nếu theo lịch can thì bắt đầu từ 23 giờ 30 phút đã sang giờ Tý của ngày hôm sau.
 
+ Kết hợp Lục thập hoa Giáp với Âm Dương ngũ hành để tính tuổi xung khắc với ngày, tháng, năm can chi định chọn:
Tương xung, có Lục xung hàng chi:
- Tý xung ngọ
- Sửu xung Mùi
- Dần xung Thân
- Mão xung Dậu
- Thìn xung Tuất
- Tị Xung Hợi
 
Và tứ xung hàng can:
- Giáp xung Canh,
- Ất xung Tân,
- Bính xung Nhâm,
- Đinh xung quí, (Mậu Kỷ không xung).

Nhưng khi kết hợp lục thập hoa Giáp theo hệ số 60, có 5 lần hàng chi (12) gặp 6 hàng can (10), quy vào ngũ hành tính tương sinh tương khắc thì có 1 lần tương hoà, 2 lần tương sinh, chỉ còn lại 2 lần xung khắc (hàng chi).

Thí dụ: Tính xem ngày (hoặc tháng, hoặc năm) Giáp Tý xung khắc với tuổi nào?
Tính hàng chi: Tý xung Ngọ, vậy Giáp Tý (xung với Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Ngọ, Nhâm Ngọ, và Mậu ngọ)
Xem bảng "Kết hợp Lục thập hoa Giáp với Ngũ hành" ta thấy:
Giáp Tý thuộc kim:
Giáp Ngọ thuộc kim vì thế tương hoà.
Canh Ngọ thuộc thổ, Bính Ngọ thuộc thuỷ vì thế đều tương sinh chỉ có Nhâm Ngọ thuộc mộc, Mậu Ngọ thuộc hoả là tương khắc.
Tính hàng can: Giáp xung Canh.
Giáp Tý thuộc kim:
Canh Tuất, Canh Thìn đều thuộc kim vì thế tương hoà
Canh Tý, Canh Ngọ đều thuộc thổ đều tương sinh
Chỉ có Canh Dần và Canh thân thuộc mộc là tương khắc.
Vậy ngày (hoặc tháng năm), Giáp Tý chỉ có 4 tuổi xung khắc là Nhâm Ngọ, Mậu Ngọ, Canh Dần, Canh thân:
Tương hình: Theo hàng chi có :
- Tý và Mão (một dương, một âm điều hoà nhau).
- Tỵ và Dần thân (tị âm điều hoà được với Dần thân dương, chỉ còn Dần và thân tương hình nhau, nhưng đã tính ở lục xung).
Theo luật điều hoà âm dương, chỉ khắc nhau trong trường hợp cả hai đều âm hoặc cả hai đều dương. Vì vậy chỉ còn lại 2 trường hợp tự hình nhau: Thìn với Thìn, Ngọ với ngọ.

 
Tương hại: cũng là xấu, có 6 cặp tương hại nhau: Tý và Mùi, Sửu và Ngọ, Dần và Tị, Mão và Thìn, Thân và Hợi, Dậu và Tuất. Nhưng khi kết hợp với can chi, theo luật âm dương, tự triệt tiêu.

* Tóm lại: Tính cả xung, khắc, hình, hại, trong số 60 can chi, chỉ có 2-4 ngày không hợp mệnh thôi, hơn nữa còn tuỳ theo mức độ xung khắc mạnh hay yếu (tuỳ theo bản mệnh).
 
Bảng đối chiếu Lục thập hoa Giáp ngũ hành và cách tính tuổi xung khắc
STT  Ngày Tháng Năm Ngũ Hành Tuổi Xung Khắc
1 Giáp Tý Vàng trong biển (Kim) Mậu Ngọ, Nhâm Ngọ, Canh Dần, Canh Thân
2 Ất Sửu Kỷ Mùi, Quí Mùi, Tân Mão, Tân Dậu
3 Bính Dần Lửa trong lò (Hoả) Giáp Thân, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
4 Đinh Mão Ất Dậu, Quí Dậu, Quí Tỵ, Quí Hợi
5 Mậu Thìn Gỗ trong rừng (Mộc) Canh Tuất, Bính Tuất
6 Kỷ Tỵ Tân Hợi, Đinh Hợi
7 Canh ngọ Đất ven đường (Thổ) Nhâm Tý, Bính Tý, Giáp thân, Giáp Dần
8 Tân Mùi Quí Sửu, Đinh Sửu, Ấ Dậu, Ất Mão
9 Nhâm thân Sắt đầu kiếm (Kim) Bính Dần, Canh Dần, Bính Thân
10 Quí Dậu Đinh Mão, Tân Mão, Đinh Dậu
11 Giáp Tuất Lửa trên đỉnh núi (hoả) Nhâm Thìn, Canh Thìn, Canh Tuất
12 Ất Hợi Quí Tị, Tân Tị, Tân Hợi
13 Bính Tý Nước dưới lạch (Thuỷ) Canh Ngọ, Mậu Ngọ
14 Đinh Sửu Tân Mùi, Kỷ Mùi
15 Mậu Dần Đất đầu thành (Thổ) Canh Thân, Giáp Thân
16 Kỷ Mão Tân Dậu, Ất Dậu
17 Canh thìn Kim bạch lạp (Kim) Giáp Tuất, Mậu Tuất, Giáp Thìn
18 Tân Tỵ Ất Hợi, Kỷ hợi, Ất Tỵ
19 Nhâm ngọ Gỗ dương liễu (Mộc) Giáp Tý, Canh Tý, Bính Tuất, Bính Thìn
20 Quí Mùi Ất Sửu, Tân Sửu, Đinh hợi, Đinh Tỵ
21 Giáp thân Nước trong khe (Thuỷ) Mậu Dần, Bính Dần, Canh Ngọ, Canh Tý
22 Ất Dậu Kỷ Mão, Đinh Mão, Tân Mùi, Tân Sửu
23 Bính Tuất Đất trên mái nhà (Thổ) Mậu Thìn, Nhâm Thìn, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
24 Đinh hợi Kỷ Tị, Quí Tị, Quí Mùi, Quí Sửu
25 Mậu Tý Lửa trong chớp (Hoả ) Bính Ngọ, Giáp Ngọ
26 Kỷ Sửu Đinh Mùi, Ất Mùi
27 Canh Dần Gỗ tùng Bách (Mộc) Nhâm Thân, Mậu Thân, Giáp Tý, Giáp Ngọ
28 Tân Mão Quí Dậu, Kỷ Dậu, Ất Sửu, Ất Mùi
29 Nhâm Thìn Nước giữa dòng (Thuỷ) Bính Tuất, Giáp Tuất, Bính Dần
30 Quí Tỵ Đinh Hợi, Ất hợi, Đinh Mão
31 Giáp ngọ Vàng trong cát (Kim) Mậu Tý, Nhâm Tý, Canh Dần, Nhâm Dần
32 Ất Mùi Kỷ Sửu, Quí Sửu, Tân Mão, Tân Dậu
33 Bính Thân Lửa chân núi (Hoả) Giáp Dần, Nhâm Thân, Nhâm Tuất, Nhâm Thìn
34 Đinh Dậu Ất Mão, Quí Mão, Quí Tị, Quí Hợi
35 Mậu Tuất Gỗ đồng bằng (Mộc) Canh Thìn, Bính Thìn
36 Kỷ Hợi Tân Tị, Đinh Tị.
37 Canh Tý Đất trên vách (Thổ) Nhâm Ngọ, Bính Ngọ, Giáp Thân, Giáp Dần
38 Tân Sửu Quí Mùi, Đinh Mùi, Ất Dậu, Ất Mão
39 Nhâm Dần Bạch kim (Kim) Canh Thân, Bính Thân, Bính Dần
40 Quí Mão Tân Dậu, Đinh Dậu, Đinh Mão
41 Giáp Thìn Lửa đèn (Hoả) Nhâm Tuất, Canh Tuất, Canh Thìn
42 Ất Tỵ Quí Hợi, Tân Hợi, Tân Tị
43 Bính Ngọ Nước trên trời (thuỷ) Mậu Tý, Canh Tý
44 Đinh Mùi Kỷ Sửu, Tân Sửu
45 Mậu Thân Đất vườn rộng (Thổ) Canh Dần, Giáp Dần
46 Kỷ Dậu Tân Mão, Ất Mão
47 Canh Tuất Vàng trang sức (Kim) Giáp Thìn, Mậu Thìn, Giáp Tuất
48 Tân Hợi Ất Tị, Kỷ Tị, Ất hợi
49 Nhâm Tý Gỗ dâu (Mộc) Giáp Ngọ, Canh Ngọ, Bính Tuất, Bính Thìn
50 Quí Sửu Ất Mùi, Tân Mùi, Đinh Hợi, Đinh Tỵ
51 Giáp Dần Nước giữa khe lớn (Thuỷ) Mậu Thân, Bính Thân, Canh Ngọ, Canh Tý
52 Ất Mão Kỷ Dậu, Đinh Dậu, Tân Mùi, Tân Sửu
53 Bính Thìn Đất trong cát (Thổ) Mậu Tuất, Nhâm Tuất, Nhâm Ngọ, Nhâm Tý
54 Đinh Tỵ Kỷ hợi, Quí Hợi, Quí Sửu, Quí Mùi
55 Mậu ngọ Lửa trên trời (Hoả) Bính Tý, Giáp Tý
56 Kỷ Mùi Đinh Sửu, Ất Sửu
57 Canh Thân Gỗ thạch Lựu (Mộc) Nhâm Dần, Mậu Dần, Giáp Tý, Giáp Ngọ
58 Tân Dậu Quí Mão, Kỷ Mão, Ất Sửu, Ất Mùi
59 Nhâm Tuất Nước giữa biển (Thuỷ) Bính Thìn, Giáp Thìn, Bính Thân, Bính Dần
60 Quý Hợi Đinh Tị, Ất Tị, Đinh Mão, Đinh Dậu

 

2. Kén giờ

Phong thuỷ làm nhà- Kén giờ thì việc gì lúc mới bắt đầu như lúc mới xuất hành, lúc mới ra ngõ đi cưới, lúc mới dựng nhà, lúc hạ huyệt... Thường đều kén lấy giờ hoàng đạo. Phép tính giờ hoàng đạo phải nhớ bốn câu thơ:
Dần, thân gia tý; mão dậu dần
Thìn, tuất tầm thìn: tý ngọ thân;
Tị, hợi thiên cương tầm ngọ vị
Sửu mùi tòng tuất định kỳ chân
Lại cần phải nhớ hai câu:
Đạo viễn kỷ thời thông đạt
Lộ dao hà nhật hoàn trình.

- Sáu câu thơ trên là tất cả cái chìa khoá để tìm giờ Hoàng Đạo nhưng cũng phải biết tính 12 cung trên bàn tay (hình vẽ): cung Tý ở ngấn cuối cùng ngón tay đeo nhẫn, cứ tính thuận theo chiều kim đồng hồ và đến cuối cùng tới cung Hợi ở cuối ngón tay út.
Muốn tính giờ trước hết phải biết mình định tính là ngày gì rồi dùng hai câu thơ dưới mà bấm theo giờ ở bốn câu thơ trên. Bấm gặp cung nào có chữ Đạo, Viễn, Thông, Đạt, Dao, Hoàn thì giờ ấy là giờ Hoàng Đạo.
- Những ngày Dần Thân thì bấm chức Đạo ở cung Tý; những ngày Mão Dậu thì bấm chữ Đạo ở cung Dần; những ngày Thìn Tuất thì bấm chữ Đạo ở cung Thìn; những ngày Tỵ Hợi thì bấm chữ Đạo ở cung Thân; ngày Tý thì bấm chữ Đạo ở cung Ngọ; ngày Ngọ thì bấm chữ Đạo ở cung Vị tức là cung Mùi; những ngày Sửu Mùi thì bấm chữ Đạo ở cung Tuất.
- VD: Tính giờ Hoàng Đạo của ngày Thân. Ta bắt đầu chữ Đạo ở cung Tý rồi ta tính dần đi ta sẽ thấy: Cung Tý ở chữ Đạo; Cung Sửu ở chữ Viễn; Cung Dần ở chữ Ký; Cung Mão ở chữ Thời; Cung Thìn ở chữ Thông; Cung Tỵ ở chữ Đạt; Cung Ngọ ở chữ Lộ; Cung Mùi ở chữ Dao; Cung Thân ở chữ Hà; Cung Dậu ở chữ Nhật; Cung Tuất ở chữ Hoàn; Cung Hợi ở chữ Trinh.
Như vậy tức là trong ngày hôm đó những giờ Tý, Sửu, Thìn, Tỵ, Mùi và Tuất là những giờ hoàng đạo. Các ngày khác cũng tính theo như trên, căn cứ vào sáu câu thơ chìa khoá sẽ biết giờ
Mỗi câu lục bát sau đây có 14 chữ: Hai chữ đầu chỉ 2 ngày, thứ 3 chỉ giờ tý, chữ thứ 4 chỉ giờ sửu, lần lượt theo thứ tự từ chữ thứ 3 đến chữ 14 chỉ từ giờ tý, sửu, dần, mão...xem trong bảng, thấy chữ nào có phụ âm đầu là chữ "Đ" thì đó là giờ hoàng đạo. Phân tích tỷ mỉ hơn thì đó là các giờ: Thanh long, Minh đường, kim đường, thiên lương, ngọc đường, hoàng đạo
 
 
Ngày
Sửu
Dần
Mão
Thìn
Tị
Ngọ
Mùi
Thân
Dậu
Tuất
Hợi
Dần, Thân
Đi
Đứng
bình
yên
Đến
Đâu
cũng
Được
người
quen
Đón
chào
Mão, Dậu
Đến
cửa
Đông
Đào
tiên

 Đưa

Đón
qua
Đèo
thiên
thai
Thìn, Tuất
ai
ngóng
Đợi
ai
Đường
Đi
suông
sẻ
Đẹp
Đôi
bạn
Đời
Tị, Hợi
cuối
Đất
cùng
trời
Đến
nơi
Đắc
Địa
còn
ngồi
Đắn
Đo
Tí, Ngọ
Đẹp
Đẽ
tiền
Đồ
qua
sông
Đừng
vơi
Đợi
Đò
sang
ngang
Sửu Mùi
sẵn
kẻ
Đưa
Đường
băng
Đèo
vượt
suối
Đem
sang
Đồn
Điền
 
Phong thuỷ làm nhà
In văn bản

Sửa chữa, cải tạo nhà dân dụng

 

 

 

 

 

 

 

Sửa chữa, cải tạo nhà dân dụng